(ThanhtratinhHatinh) - Ngày 25/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 368/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/10/2026, với nhiều quy định cụ thể về điều kiện xét tặng, hồ sơ, thủ tục, mức tiền thưởng và xử lý các trường hợp phát sinh trong công tác thi đua, khen thưởng.
Một trong những nội dung đáng chú ý là việc quy định rõ tỷ lệ xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”. Theo Điều 5 Nghị định, đối với các trường hợp đạt tiêu chuẩn “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” và có sáng kiến được cơ sở công nhận; có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá hiệu quả; hoặc mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu được đơn vị công nhận, tỷ lệ xét tặng “Chiến sĩ thi đua cơ sở” không quá 10% tổng số cá nhân đạt tiêu chuẩn “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”. Khi xác định tỷ lệ này không tính cá nhân được xét tặng do được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Quy định góp phần cụ thể hóa tiêu chí, hạn chế tình trạng xét tặng dàn trải, bảo đảm khen thưởng gắn với thành tích thực chất.
Nghị định cũng làm rõ một số nguyên tắc bảo đảm quyền lợi và sự công bằng trong xét thi đua, khen thưởng. Thời gian nghỉ thai sản theo quy định của pháp luật được tính là thời gian công tác để xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng. Khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng. Đối với khen thưởng quá trình cống hiến, thời gian giữ chức vụ của nữ lãnh đạo, quản lý được giảm một phần ba so với thời gian quy định chung, trừ trường hợp pháp luật quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn.
Đặc biệt, Nghị định quy định chặt chẽ việc xem xét khen thưởng đối với cá nhân, tập thể đang có dấu hiệu vi phạm. Theo khoản 4 Điều 4, chưa khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng trong thời gian cơ quan có thẩm quyền đang xem xét thi hành kỷ luật; đang điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo, vấn đề tham nhũng, tiêu cực được báo chí nêu và đang được xác minh, làm rõ. Trường hợp kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc văn bản xác minh xác định không có sai phạm, không có dấu hiệu vi phạm thì việc khen thưởng được thực hiện theo quy định. Đây là nội dung có ý nghĩa trực tiếp trong việc bảo đảm tính khách quan, thận trọng và uy tín của công tác thi đua, khen thưởng.
Về tiền thưởng, Nghị định xác định mức tiền thưởng được tính trên cơ sở mức lương cơ sở đang có hiệu lực tại thời điểm ban hành quyết định công nhận danh hiệu thi đua hoặc quyết định hình thức khen thưởng; số tiền sau khi nhân hệ số được làm tròn lên hàng chục nghìn đồng. Theo đó, “Chiến sĩ thi đua cơ sở” được thưởng 01 lần mức lương cơ sở; “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” 0,3 lần; “Tập thể lao động xuất sắc”, “Đơn vị quyết thắng” 1,5 lần; “Tập thể lao động tiên tiến”, “Đơn vị tiên tiến” 0,8 lần; “Cờ thi đua của Chính phủ” 12 lần mức lương cơ sở. Trường hợp các danh hiệu có cùng thời gian được tính để đạt danh hiệu thì chỉ nhận tiền thưởng của danh hiệu cao nhất; nếu thời gian được tính khác nhau thì nhận tiền thưởng tương ứng của từng danh hiệu.
Hồ sơ, thủ tục khen thưởng cũng được chuẩn hóa theo hướng kết hợp hồ sơ giấy với hồ sơ điện tử. Khi trình Thủ tướng Chính phủ, bộ, ban, ngành, tỉnh phải gửi Bộ Nội vụ 01 bản giấy là bản chính của hồ sơ, đồng thời gửi tệp điện tử qua hệ thống phần mềm; nội dung thuộc bí mật nhà nước không thực hiện gửi tệp điện tử. Báo cáo thành tích phải phù hợp với điều kiện, tiêu chuẩn của danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng và theo đúng mẫu quy định. Đối với hồ sơ đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước, nội dung thành tích tính đến thời điểm trình Thủ tướng Chính phủ không được quá 06 tháng, trừ khen thưởng thành tích kháng chiến.
Đối với khen thưởng thành tích xuất sắc đột xuất theo thủ tục đơn giản, Nghị định quy định người đứng đầu có thẩm quyền thực hiện khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng ngay sau khi lập được thành tích; đối với trường hợp thuộc phạm vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 85 Luật Thi đua, khen thưởng, Bộ Nội vụ thẩm định và hoàn thiện hồ sơ trình trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, trừ trường hợp phải lấy ý kiến cơ quan liên quan hoặc khen thưởng danh hiệu Anh hùng. Nghị định đồng thời quy định thủ tục riêng để điều chỉnh thông tin trong quyết định khen thưởng cấp Nhà nước; thời hạn rà soát, thẩm định ở từng cấp được xác định cụ thể.
Cùng với đó, trách nhiệm thu hồi hiện vật và tiền thưởng khi quyết định khen thưởng bị hủy bỏ được quy định rõ. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định tước danh hiệu hoặc hủy bỏ quyết định khen thưởng thuộc các trường hợp theo quy định, tập thể, cá nhân, hộ gia đình có trách nhiệm nộp lại đầy đủ hiện vật khen thưởng và tiền thưởng đã nhận cho cơ quan nơi đã trình khen và chi tiền thưởng; cơ quan có liên quan có trách nhiệm đôn đốc, tiếp nhận và xử lý theo quy định.
Nghị định số 368/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/10/2026; Nghị định số 152/2025/NĐ-CP hết hiệu lực từ cùng ngày. Đối với Thanh tra tỉnh, việc kịp thời nghiên cứu, quán triệt các quy định mới có ý nghĩa thiết thực trong tổ chức phong trào thi đua, xét danh hiệu và hình thức khen thưởng đối với tập thể, cá nhân của cơ quan. Việc xét khen thưởng cần tiếp tục gắn chặt với kết quả thực hiện nhiệm vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ; bảo đảm đúng tiêu chuẩn, đúng thành tích, đúng quy trình, qua đó phát huy vai trò động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.